Ông Trịnh Thế Khoa, ngụ xã Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh, là một trong số ít người từng tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ còn sống ở Tây Ninh. Ông Khoa sinh năm 1926, quê tỉnh Hải Dương, là bộ đội chính quy trực tiếp tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ. Nhiệm vụ của ông Khoa trong trận chiến Điện Biên Phủ là kéo pháo vào trận địa. Sau đó, ông được chỉ huy phân công đánh cứ điểm Đồi Him Lam.
Ông Trịnh Thế Khoa nhớ lại: “Đồi Him Lam có 7 hàng rào. Lúc bấy giờ bảy anh em lên bốc thăm xem đúng hàng rào nào thì đánh hàng rào nấy. Tôi bốc được số 5. Hàng rào nó rộng lắm, đánh xong nó cháy ầm ầm. Tôi bảo tất cả tiểu đoàn trong Sư đoàn 312, quả bộc phá số 5 vừa rồi nổ, có rất nhiều hầm hố. Anh em chạy nhanh về đó trú ẩn”.
Sau ngày đất nước thống nhất, Bắc Nam một nhà, ông Khoa vào Tây Ninh lập gia đình làm ăn sinh sống. Đã tròn bách niên, nhưng ông vẫn khỏe mạnh, minh mẫn. Ngoài việc chăm lo cho gia đình, ông còn gương mẫu, nhiệt tình tham gia các hoạt động xã hội, sống mẫu mực, trở thành tấm gương cho con cháu noi theo.
Ông Trịnh Thế Giao – một trong những người con của vợ chồng ông Trịnh Thế Khoa chia sẻ: “Phát huy truyền thống của bố mẹ, chúng tôi đã cố gắng học tập để có được kiến thức và có việc làm ổn định, phục vụ cho địa phương, cũng như dạy bảo con cháu trong gia đình học tập phải thật tốt và phục vụ cho địa phương. Tôi có hai người con, một người nối tiếp truyền thống của bố tôi, tham gia Quân đội Nhân dân Việt Nam và một người cháu tham gia lực lượng Công an Nhân dân”.

Ở xã Tân Phú, tỉnh Tây Ninh, hiện có một người từng tham gia vận chuyển lương thực ra mặt trận Điện Biên năm xưa, đó là ông Nguyễn Văn Cát, sinh năm 1937, tại Thanh Hoá.
Ông Cát nhớ lại, những năm chống Pháp, hầu hết thanh niên trong làng đều được vận động ra chiến trường. Lúc đó, ông mới 17 tuổi, cũng hăng hái tham gia làm công tác dân công hỏa tuyến. Ngày 3/2/1945, ông bắt đầu lên đường gánh gạo cho chiến dịch Điện Biên Phủ. Mỗi dân công hỏa tuyến được giao gánh 30kg gạo, gánh ra chiến trường để nuôi quân. Dân công nhận gạo từ một kho chứa, để vào hai thúng, trên vai lót tay nải cho đỡ đau, một tay cầm chiếc gậy và bắt đầu gánh. Ban ngày, tất cả dân công gánh gạo đều ẩn nấp trong rừng núi, để quân địch không phát hiện. Ban đêm, mọi người âm thầm gánh gạo lên đường.
Công việc vận chuyển gạo vất vả vô cùng, có những đoạn đường rất khó đi, khi gánh gạo ngang những nơi này phải lần mò, nhích từng bước một, nếu sơ suất là trượt chân ngã xuống hố sâu, vực thẳm. “Một lần lần đơn vị của tôi gánh gạo vừa đi khỏi căn cứ khoảng 10 phút thì máy bay khu trục của địch đến ném bom san bằng tất cả căn cứ. Nếu đi trễ hơn khoảng 15 phút, là cả đơn vị có thể bị xương tan, thịt nát”- cựu dân công 89 tuổi kể.

Sau khi đến chiến trường, dân công hỏa tuyến được giao nhiệm vụ cáng thương binh từ chiến trường về hậu cứ để chữa trị. Mỗi tổ dân công gồm ba người phụ trách một thương binh. Chiến sĩ bị thương nằm trên võng. Chiếc võng mắc trên một đoạn cây dài. Hai dân công hỏa tuyến, mỗi người gánh một đầu cây. Người còn lại đi theo phía sau. Khi nào có một trong hai người gánh bị mỏi thì người phía sau kề vai vào gánh thay. Cứ như thế lần lượt đem thương binh về đến trạm y tế giao cho đơn vị quân y. Sau đó, dân công tiếp tục nhận gạo và gánh lên chiến trường.
Ông Cát không thể nào nhớ được quãng đường gánh gạo dài bao nhiêu. Ông chỉ nhớ cứ gánh gạo đi hết ngày này đến ngày khác, rõng rã suốt một tháng rưỡi. Trận Điện Biên Phủ chiến thắng, ông mới trở về nhà.
Sau ngày miền Nam giải phóng, ông Cát đưa gia đình vào Tây Ninh sinh sống. Vợ chồng ông Cát có 6 người con, đều dựng vợ gả chồng và kinh tế ổn định. Hiện nay, vợ chồng ông sống trong căn nhà tường khang trang với vợ chồng người con gái út. Hằng ngày, đôi vợ chồng già vui thú điền viên với mai vàng, mít, sầu riêng.

Vợ chồng ông Cát còn tham gia Hội Cựu chiến binh của xã và luôn gương mẫu, nhiệt tình tham gia các hoạt động xã hội do chính quyền địa phương phát động. “Nay gia đình kinh tế ổn định, tinh thần thoải mái, không còn lo lắng gì nữa. Bây giờ, tôi sống với gia đình, sống mẫu mực cho con cháu noi theo”- cựu dân công hỏa tuyến tâm sự.
Đến nay, hầu hết những người đóng góp vào sự kiện lịch sử 72 năm trước đã về với tổ tiên, không còn mấy người còn sống. Nhưng người dẫu còn hay mất, thì những chiến công lừng lẫy năm xưa và những tấm gương oanh liệt của thế hệ cha ông sẽ trường tồn cùng lịch sử dân tộc Việt Nam anh hùng và trong sự biết ơn của thế hệ trẻ ngày nay và mai sau./.

