Thân phụ cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng từng đảm nhiệm chức quan gì?

KỶ NIỆM 120 NĂM NGÀY SINH CỐ THỦ TƯỚNG PHẠM VĂN ĐỒNG (1.3.1906 – 1.3.2026)

 TS Nguyễn Đăng Vũ

Nguyên Hiệu trưởng Trường đại học Phạm Văn Đồng – Quảng Ngãi

Lâu nay, đã có nhiều sách báo viết về cuộc đời và sự nghiệp của cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng, trong đó có nhắc đến thân phụ của ông, là ông Phạm Văn Nga, nhưng lại chưa rõ ràng, đầy đủ, thậm chí thiếu chính xác. Qua bản thần sắc, cũng như các tài liệu Hán Nôm còn lưu lại nhà thờ họ Phạm, có thể giúp làm sáng tỏ thêm về vấn đề này, nhân kỷ niệm 120 năm ngày sinh cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng.

Ông Phạm Văn Nga qua vài tư liệu

Cho đến hiện nay, bằng những tư liệu chúng tôi có được, hiếm có tài liệu nào đề cập đến thân thế và sự nghiệp của ông Phạm Văn Nga. Có chăng cũng chỉ nêu: Theo các bậc cao niên ở Mộ Đức (Quảng Ngãi) và những người trong gia tộc họ Phạm ở đây, ông Phạm Văn Nga thi đậu Cử nhân Hán học và làm quan dưới triều vua Duy Tân. Khi vua Duy Tân bị Pháp bắt và bị đưa đi đày thì ông Phạm Văn Nga trở về quê nhà làm nghề dạy học (xem bài Phạm Văn Đồng – người con ưu tú của quê hương núi Ấn – sông Trà của GS-TS Phan Ngọc Liên và PGS-TS Trịnh Đình Tùng, in trong sách Phạm Văn Đồng – người con ưu tú của quê hương Quảng Ngãi, NXB Chính trị Quốc gia, 2001).

Quang Lộc Tự Khanh Phạm Văn Nga – thân sinh của cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng

Ảnh: Đăng Vũ (chụp lại tại nhà thờ họ Phạm)

Lần tìm trong phả hệ của họ Phạm, một số tài liệu chữ Hán còn lưu trữ và phần mộ của tộc họ Phạm tại xóm Cây Gạo, thôn 2, xã Đức Tân (trước đây là Thi Phổ Nhất), Mộ Đức, Quảng Ngãi, chúng tôi được thêm thông tin: Ông Phạm Văn Nga (誐) là người con thứ 7 (trong số 9 người con) của ông Phạm Văn Thức (識) và bà Trần Thị Lương (俍), là hậu duệ đời thứ 10 kể từ ông Phạm Văn Hiêu (viết là 枵, nhưng bà con họ Phạm nhiều đời, gọi là Hiều). Ông Phạm Văn Nga sinh và mất năm nào, không rõ. Trên bia mộ cũng không có thông tin này, chỉ thấy ghi những người con phụng lập, là: Phạm Văn Phúng (trưởng nam) cùng các con là Văn Cáo, Văn Ký, Văn Duy, Văn Khoái, Văn Đồng, Thị Chiêm, Thị Oanh, phụng lập năm Giáp Thân – 1944.

Theo sách Các nhà khoa bảng Nho học Quảng Ngãi 1819 – 1918nhà nghiên cứu Cao Chư, cũng ghi: Chưa rõ năm sinh, năm mất của ông Phạm Văn Nga, chỉ biết ông Phạm Văn Nga đỗ cử nhân khoa Giáp Thân – 1884, tại Trường thi Hương Bình Định, xếp thứ 7 trong 18 người thi đỗ. Ông Nga ở nhà dạy học, sau được mời ra Huế làm quan, giữ chức Thừa biện Bộ Lễ, sau xin nghỉ về quê tiếp tục dạy học (NXB Đà Nẵng, 2011, tr.140).

Tra thêm về những người đỗ kỳ thi hương lần này, chúng tôi được biết, ở Quảng Ngãi có 5 người cùng đỗ cử nhân năm Giáp Thân – 1884 tại Trường thi Bình Định, gồm: Phạm Văn Chất – cử nhân, thủ khoa; và các ông: Võ Dương, Phạm Văn Nga, Nguyễn Thừa Lương và Lê Trung Đình.

Bản thần sắc cho hai làng/phái Thi Phổ Nhất và Thi Phổ Nhì thờ phụng ông Phạm Văn Nga, sẽ giúp hiểu thêm về chức quan mà ông đảm nhiệm khi tại thế.

Sắc thần phụng thờ ông Phạm Văn Nga

Sắc ban cho hai phái Thi Phổ Nhất và Thi Phổ Nhì thờ phụng ông Phạm Văn Nga

Ảnh: Đăng Vũ

Phiên âm: Sắc Quảng Ngãi tỉnh, Mộ Đức phủ, Thi Phổ Nhất Nhị lưỡng phái phụng sự Quang Lộc Tự Khanh Phạm Văn Nga đại lang chi thần, nẫm trứ linh ứng. Tứ kim phi thừa cảnh mệnh, miến niệm thần hưu, trứ phong vi Dực bảo Trung hưng Linh phù chi thần. Chuẩn kỳ phụng sự, thứ cơ thần kỳ tướng hựu, bảo ngã lê dân. Khâm tai! Bảo Đại thập bát niên, bát nguyệt, thập ngũ nhật. [Ấn] Sắc Mệnh Chi Bảo.

Dịch nghĩaSắc cho hai phái Thi Phổ Nhất, Thi Phổ Nhị, phủ Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi phụng thờ thần Quang Lộc Tự Khanh Phạm Văn Nga đại lang, từ lâu tỏ rõ linh ứng. Nay Trẫm gánh vác mệnh lớn, tưởng nhớ ơn thần, nên trước phong làm Thần Dực bảo Trung hưng Linh phù. Chuẩn cho phụng thờ, ngỏ hầu thần hãy giúp đỡ, che chở và bảo vệ dân ta. Kính thay! Ngày 15, tháng 8, năm Bảo Đại thứ 18 (1942). [Ấn] Sắc Mệnh Chi Bảo.

Vậy ông Phạm Văn Nga từng đảm nhận chức quan gì?

Điều đầu tiên, có thế thấy, nội dung bản sắc này cho biết ít nhiều về chức tước (cuối cùng) của ông Phạm Văn Nga, đó là Quang Lộc Tự Khanh. “Tự điển nhà Nguyễn” của Võ Hương An cho biết, theo quan chế của triều Nguyễn, Quang Lộc Tự là cơ quan độc lập, không thuộc bộ nào (trong lục bộ), Quang Lộc Tự Khanh là chức quan văn ở trật Tòng Tam phẩm, đứng đầu Quang Lộc Tự (Tao Đàn thư quán – NXB Tổng hợp TP.HCM, tái bản lần 2, 2021, tr.639). Từ điển chức quan Việt Nam của Đỗ Văn Ninh, cũng viết: Quang Lộc Tự Khanh là Trưởng Quang Lộc Tự. Thời Nguyễn cho trật Tòng tam phẩm, thấp hơn Thái Thượng Tự Khanh (NXB Thanh niên, Hà Nội, 2022, tr.537).

Vậy vì sao, các tài liệu hiếm hoi có nhắc ông Phạm Văn Nga, như đã nói ở trước, lại viết ông làm Thừa biện Bộ Lễ, hay trên trang Wikipedia về họ Phạm ở Việt Nam (truy cập ngày 25.4.2022) lại còn viết thêm: Ông Phạm Văn Nga “từng làm tới chức Thị giảng Học sĩ (dạy học cho các Hoàng tử), được phong hàm Tam phẩm Tham biện Nội các”?

Để tự giải đáp thắc mắc này, chúng tôi phải tiếp tục tìm về nhà thờ họ Phạm (hậu hiền làng Thi Phổ). May thay, tại nhà thờ họ Phạm, chúng tôi còn tìm thấy nhiều tài liệu Hán Nôm rất giá trị, liên quan đến ông Phạm Văn Nga.

Nhờ những tài liệu này mà có thể biết thêm ông Phạm Văn Nga từng giữ chức quan gì.

Từ các chế phong

Tại bản chế phong đề ngày 29 tháng 12 năm Duy Tân thứ 7 (1913), vua Duy Tân ban cho ông Phạm Văn Thức – thân phụ của ông Phạm Văn Nga, thì lúc bấy giờ ông Phạm Văn Nga đang lãnh chức Quang Lộc Tự Thiếu Khanh Tham biện Nội các sự vụ.

Tại 2 bản chế phong (khác), đều đề ngày 10 tháng 5 năm Khải Định thứ nhất (1916), vua Khải Định ban cho ông Phạm Văn Thức và bà Trần Thị Lương, tức thân phụ và thân mẫu của ông Phạm Văn Nga, lúc này, ông Phạm Văn Nga đã hưu trí, với chức quan là Quang Lộc Tự Khanh.

Cũng từ 3 bản chế phong và sắc thần nói trên, chúng ta có thể suy đoán: vào đầu thời vua Duy Tân, ông Phạm Văn Nga, làm Quang Lộc Tự Thiếu Khanh Tham biện Nội các sự vụ (chứ không phải Tham biện Bộ Lễ). Theo quan chế nhà Nguyễn, thì chức quan này là chức quan thứ hai trong Quang Lộc Tự, có trật Tòng tứ phẩm. Vào cuối đời vua Duy Tân, ông Phạm Văn Nga được thăng làm Quang Lộc Tự Khanh là chức quan đứng đầu Quang Lộc Tự, trật Tòng tam phẩm. Và sang đầu thời Khải Định, ông Phạm Văn Nga đã nghỉ hưu.

Thông tin mà chúng tôi vừa nêu trên phù hợp với câu trả lời chân tình, cởi mở của Thủ tướng Phạm Văn Đồng, khi những cán bộ nghiên cứu lịch sử đến tiếp kiến ông để hỏi về những năm tháng theo thân phụ ra Huế và được đi học ở đó. Tài liệu ghi chép về buổi gặp gỡ này còn lưu tại Viện Hồ Chí Minh – Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh. Khi đó, Thủ tướng Phạm Văn Đồng trả lời rằng: “Bố tôi là một ông quan, to nhỏ tôi không biết, nhưng cũng thuộc hàng tam tứ phẩm gì đó. Vì lúc đó tôi còn rất ít tuổi nên không nhớ. Bố làm quan, con là cậu ấm cũng là lẽ thường tình. Chính bởi vậy mà tôi có điều kiện học hành hơn những người cùng lứa” (dẫn theo Phan Ngọc Liên – Trịnh Đình Tùng, tlđd, tr.33).

Vì sao lại nói ông Phạm Văn Nga làm Thị giảng Học sĩ?

Như đã đề cập ở bài trước, trên Wikipedia về họ Phạm lại ghi ông Phạm Văn Nga là Thị giảng Học sĩ hàm Tam phẩm Tham biện Nội các. Có lẽ những người viết trang này nhầm lẫn.

Dựa theo bản chế phong ban cho ông Phạm Văn Thức (cha của ông Phạm Văn Nga) vào năm Khải Định thứ nhất (1916), chúng ta có thể khẳng định về sự nhầm lẫn đó. Nội dung bản chế phong cho biết: Vì có con làm Quang Lộc Tự Khanh với trật Tòng tam phẩm, nên người cha – tức ông Phạm Văn Thức, được gia tặng là Hàn lâm viện Thị giảng Học sĩ.

Theo Đại Nam Hội điển sự lệ, để sung ân cho các quan văn võ, từ năm 1840, thời Minh Mạng, trở về sau, triều đình quy định: Nếu người con có trật Tòng tam phẩm, thì người cha sẽ được tặng hàm Hàn lâm viện Thị giảng Học sĩ, người mẹ sẽ được tặng là Chánh tứ phẩm Cung nhân (Nội các triều Nguyễn, Đại Nam Hội điển sự lệ, quyển 29, bản dịch của Viện Sử học, NXB Thuận Hóa, Huế, tập II, 2005, tr.369; trong bản chế phong cho bà Trần Thị Lương – thân mẫu của ông Phạm Văn Nga, cũng đã được tặng phẩm hàm như vậy). Rõ ràng là, chức hàm Hàn lâm viện Thị giảng Học sĩ không phải là chức hàm được ban cho ông Phạm Văn Nga, mà cho cha ông – ông Phạm Văn Thức, tức ông nội của cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng; và ông Phạm Văn Thức, lẫn ông Phạm Văn Nga, càng không phải người “dạy cho các hoàng tử”.

Theo các tài liệu Hán Nôm mà chúng tôi sưu tầm được, họ Phạm tại đây còn giữ 2 bản sắc phong thần. Bản sắc phong thần thứ nhất là bản sắc phong thần đề ngày 16 tháng 6 năm Khải Định thứ 10 (1925) cho ông Phạm Văn Hiêu – là thủy tổ, hậu hiền khai khẩn làng Thi Phổ; và bản sắc thứ hai, chính là bản sắc phong thần đề ngày 15 tháng 8 năm Bảo Đại thứ 18 (1942) cho ông Phạm Văn Nga – cháu đời thứ 10 của ông Hiêu mà chúng ta đang đề cập (cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng là hậu duệ, đời thứ 11). Việc được các triều vua phong thần cho 2 người trong cùng một họ, lại là họ hậu hiền, cũng là điều đặc biệt; và còn nữa, cả hai ông đều được phong thần cho hai phái Thi Phổ Nhất và Thi Phổ Nhì thờ phụng (tức bao gồm các làng/ấp/thôn thuộc xã Đức Tân và Đức Thạnh hiện nay, vốn là Thi Phổ, năm 1908 chia ra làm Thi Phổ Nhất và Thi Phổ Nhì).

Về điều này sẽ được chúng tôi tiếp tục đề cập thêm ở các bài viết sau này, cùng với các tài liệu Hán Nôm quý giá khác mà gia tộc họ Phạm ở đây đang gìn giữ, bảo quản, như các tài liệu về tú tài Phạm Văn Trọng – anh cả của ông Phạm Văn Nga, hay các văn bia chữ Hán tại mộ ông Phạm Văn Hiêu, Phạm Văn Nga, Trần Thị Lương… do chính ông Phạm Văn Phúng, anh cả của cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng cung phụng biên soạn.

Việc giới thiệu bản thần sắc cho thờ phụng ông Phạm Văn Nga cùng vài tài liệu liên quan ở trên, cũng như việc cần tiếp tục nghiên cứu các tài liệu Hán Nôm còn lưu tại nhà thờ họ Phạm, đó là một cách góp một phần trong việc tìm hiểu thân thế, gia đình của cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng – nơi giúp cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng hình thành nhân cách, trí tuệ ngay từ thuở thiếu thời, và không những thế, cũng là để hiểu hơn về lịch sử của một dòng họ có công trong việc khai hoang, lập ấp, về lịch sử – văn hóa của một vùng đất vậy.