Sau phong trào Đồng khởi năm 1960, cùng với phong trào đấu tranh chính trị chống cào nhà, gom dân lập ấp chiến lược, Đảng bộ và Nhân dân An Tịnh đã phát triển mạnh du kích chiến tranh; xây dựng xã, ấp chiến đấu.
Từ năm 1961-1965, trước yêu cầu phải bám đất, giữ làng trong bối cảnh địch liên tục càn quét, Huyện ủy Trảng Bàng khi đó đã chỉ đạo xây dựng hệ thống địa đạo liên hoàn tại ấp An Thới.
Đến giai đoạn 1966-1968, địa đạo tiếp tục được mở rộng, phát triển thành địa đạo chiến đấu hoàn chỉnh, gắn kết chặt chẽ với hệ thống công sự, hầm bí mật, giao thông hào và các bãi chông, mìn trên mặt đất.

Địa thế An Thới có nhiều yếu tố thuận lợi cho chiến tranh du kích. Đây là vùng đất cao, xa mạch nước ngầm, đất rắn chắc, thuận tiện cho việc đào hầm sâu mà không sụp lở.
Trên mặt đất, người dân trồng dày tre gai, tầm vông; xen kẽ là những khu cây cổ thụ, rừng chồi, cây dại, tạo nên một không gian rậm rạp, hiểm trở và kín đáo. Chính địa hình ấy đã trở thành “lá chắn” tự nhiên, kết hợp với công trình dưới lòng đất, hình thành một thế trận liên hoàn cả trên và dưới mặt đất.
Địa đạo được thiết kế theo hình chữ chi (Z), lòng đất được khoét thành những công sự mái vòm ở độ sâu từ chừng 3m. Chiều rộng trung bình từ 0,8-1m, chiều cao mái vòm khoảng 1,2-1,4m. Lòng hầm được khoét thành nhiều đoạn gấp khúc nhằm hạn chế sức công phá của bom đạn. Phía trên, lớp đất dày cùng hệ rễ tre đan xen tạo độ vững chắc, giúp địa đạo có thể chịu được pháo kích và sức nặng của xe cơ giới.
Khác với một số địa đạo chủ yếu dùng để trú ẩn, cấu trúc và bố phòng ở Địa đạo An Thới được thiết kế nhằm phục vụ trực tiếp cho chiến đấu. Hệ thống công sự trên mặt đất, giao thông hào, ụ chiến đấu, bãi chông… được bố trí dựa vào các hàng tre gai, tầm vông, tạo thế liên hoàn.
Địa đạo là nơi rút lui, ém quân, cất giấu lương thực, vũ khí, đồng thời cho phép lực lượng du kích “rút xuống nơi này, trồi lên nơi khác”, chủ động thay đổi vị trí đánh địch. Chính vì thế, địch từng gọi nơi đây là “Bót Việt cộng” – một pháo đài kiên cố giữa lòng dân.

Trong những năm chiến tranh, An Thới là điểm nóng chiến lược. Nằm ở địa đầu tỉnh, trên trục Quốc lộ 1 (nay là Quốc lộ 22A), xã An Tịnh khi đó phải hứng chịu nhiều cuộc càn quét quy mô lớn của địch. Chúng “cào nhà, gom dân, lập ấp chiến lược”, biến vùng đất này thành vành đai trắng, san ủi mặt đất hòng triệt phá cơ sở cách mạng. Các cuộc hành quân lớn đều coi An Thới là một trong những mục tiêu trọng điểm.
Tiêu biểu là từ ngày 07 đến 25/6/1965, Mỹ mở cuộc càn quy mô cấp sư đoàn vào căn cứ Bời Lời và vùng Tam giác sắt, trong đó một lữ đoàn đánh vào An Thới – Lộc Hưng. Suốt 20 ngày bám trụ chiến đấu, du kích ấp An Thới phối hợp lực lượng chủ lực đã dựa vào địa đạo, công sự để tiêu hao sinh lực địch, bắn cháy xe tăng, giữ vững trận địa, buộc quân Mỹ phải rút lui.
Những tháng tiếp theo năm 1966, dù địch tiếp tục bao vây, đổ quân bằng trực thăng, cơ giới với xe M113, M48 yểm trợ, quân, dân An Thới vẫn kiên cường tập kích, phá tan ý đồ “cày nát An Thới”.
Từ năm 1965-1975, trên mảnh đất này, hàng trăm cuộc càn lớn, nhỏ đã bị bẻ gãy. Địa đạo không chỉ là nơi trú ẩn mà là một trận địa sống động, nơi hội tụ trí tuệ và lòng dũng cảm của chiến tranh Nhân dân. Những hầm chông, tầm vông vạt nhọn, mìn tự tạo, giàn thun phóng lựu đạn… cùng hệ thống địa đạo đã tạo nên thế trận đặc biệt, rất phù hợp với điều kiện chiến trường Tây Ninh.
An Tịnh cũng là vùng đất giàu truyền thống yêu nước từ sớm. Từ thời thực dân Pháp xâm lược đã diễn ra các phong trào đấu tranh của Trương Quyền, Lãnh binh Tòng, Thiên Địa Hội. Trong kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, quân, dân nơi đây liên tục lập nên nhiều chiến tích. Riêng trong 15 năm chống Mỹ, cứu nước (1960-1975), quân, dân An Tịnh đã tiêu diệt hàng ngàn tên địch, phá hủy nhiều phương tiện chiến tranh, đào hàng chục ngàn mét địa đạo, chiến hào, tự tạo hàng chục ngàn trái mìn, huy động hàng ngàn thanh niên lên đường tòng quân. Với những thành tích ấy, An Tịnh được tuyên dương danh hiệu xã anh hùng, nhận nhiều phần thưởng cao quý.

Ghi nhận giá trị lịch sử to lớn, ngày 23/7/1993, Bộ Văn hóa – Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) đã công nhận Địa đạo An Thới là Di tích lịch sử – văn hóa cấp quốc gia. Trung tâm khu địa đạo hiện dài khoảng 750m, gồm 2 khu vực với diện tích bảo vệ hơn 3ha.
Trong giai đoạn 1996-1997, ngành Văn hóa đã tiến hành trùng tu, tôn tạo khu vực 1: phục chế 200m địa đạo bằng bê tông giả đất để bảo đảm an toàn lâu dài; phục dựng các lô cốt, lối lên xuống; xây dựng cổng, bia tưởng niệm, nhà trưng bày, hội trường và hệ thống sân vườn.
Khu rừng vẫn được gìn giữ, đồng thời được địa phương cho trồng thêm tre, trúc, tầm vông, tạo không gian nguyên bản của một thời khói lửa. Từ năm 1998, khu di tích chính thức đón khách tham quan trong và ngoài nước.
Ngày nay, đến với Địa đạo An Thới, du khách không chỉ tham quan một công trình quân sự đặc biệt mà còn được trải nghiệm không gian lịch sử sống động: chui xuống lòng đất, cảm nhận sự chật hẹp của đường hầm, hình dung những ngày tháng gian khổ mà kiên cường của cha ông. Mỗi mét hầm, mỗi ụ chiến đấu là một lát cắt ký ức về tinh thần “một tấc không đi, một li không rời”, về ý chí “chết tự do hơn sống nô lệ” của người dân nơi đây.
Địa đạo An Thới là minh chứng rõ nét cho sức mạnh của lòng dân và nghệ thuật chiến tranh Nhân dân sáng tạo. Chính từ lòng đất thép ấy đã hình thành nên truyền thống anh hùng, kết tinh từ ý chí bền bỉ và tinh thần quật cường của người dân An Tịnh, góp phần viết nên trang sử vẻ vang của quê hương Tây Ninh./.

