Đó là chuyện tình của ông Nguyễn Văn Rượi (sinh năm 1955) – người lính từng chiến đấu trên quê hương Trảng Bàng và bà Võ Thị Mỏng (sinh năm 1957) – cô gái của vùng quê Đức Huệ từng âm thầm chăm sóc bộ đội, vẫn nắm tay nhau đi qua tuổi già. Tình yêu của họ không chỉ là cái kết đẹp của một mối tình thời chiến mà còn là minh chứng cho nghĩa tình quân – dân son sắt trong những năm tháng đất nước gian lao.

Chuyện tình nảy nở từ tình cảm quân – dân
Xã Lộc Hưng xưa (nay thuộc phường An Tịnh, tỉnh Tây Ninh) – một trong những cái nôi cách mạng của vùng đất Trảng Bàng. Tại đây, tháng 10/1972, khi mới tròn 17 tuổi, chàng trai Nguyễn Văn Rượi rời mái nhà nhỏ ở Lộc Hưng để gia nhập lực lượng du kích xã. Tuổi trẻ của ông lớn lên giữa những cánh rừng cách mạng, bom đạn, mang theo khát vọng giản dị, góp sức bảo vệ quê hương. Tháng 10/1974, ông chính thức được chuyển từ lực lượng dân quân du kích sang bộ đội địa phương thuộc Huyện Đội Trảng Bàng.
Với tinh thần trách nhiệm, ông được phân công làm Trung đội phó Trung đội 1, Đại đội 3, Huyện Đội Trảng Bàng. Trong vai trò này, ông nhiều lần trực tiếp tham gia và chỉ huy đơn vị chiến đấu, góp phần đánh bại quân thù. Đặc biệt, ông là một trong những lực lượng chủ lực trong cuộc tổng tiến công giải phóng huyện Trảng Bàng vào ngày 29/4/1975, góp phần làm nên mùa Xuân đại thắng – giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.
Năm 1976, ông Rượi được điều động giữ chức Phó đồn Trầm Beo, xã Phước Chỉ, huyện Trảng Bàng (nay thuộc xã Phước Chỉ) để làm nhiệm vụ bảo vệ biên giới. Chính nơi đây, ông gặp gỡ được lương duyên của mình – bà Võ Thị Mỏng ở bên kia bờ sông Vàm Cỏ Đông, tại xã Mỹ Quý Đông, huyện Đức Huệ, tỉnh Long An (nay thuộc xã Mỹ Quý, tỉnh Tây Ninh).

Những ngày ấy, cô gái Võ Thị Mỏng không trực tiếp cầm súng ra chiến trường nhưng cũng góp một phần tuổi xuân cho kháng chiến. Đôi bàn tay vốn quen cắt may quần áo lại ngày đêm may cờ Mặt trận, vá từng chiếc võng, từng bộ quân phục sờn rách, lo từng bữa cơm, viên thuốc cho bộ đội. Có khi, chính đôi vai nhỏ bé ấy lại trở thành điểm tựa để dìu những người lính bị thương từ chiến trường trở về.
Trong những năm tháng chiến tranh, tình cảm quân – dân luôn gắn bó keo sơn. Các anh bộ đội luôn được Nhân dân thương yêu, đùm bọc. Ông Rượi vẫn nhớ như in những ngày sau khi hoàn thành nhiệm vụ ở đơn vị, ông lại cùng đồng đội chèo xuồng qua bên kia sông giúp người dân cấy lúa, làm đồng. Với tính cách hiền lành, siêng năng, ông được người dân và đồng đội thương, giới thiệu, mai mối với cô thợ may Võ Thị Mỏng.
Những lần gặp gỡ, làm đồng cùng nhau, ông cảm mến bà lúc nào không hay. Để được gặp bà, nhiều hôm ông kiếm cớ mang theo chiếc võng, bộ quần áo bộ đội nhờ bà vá, như một cách gửi gắm tình cảm chân thành. Thời đó, ông bà thường viết thư tay cho nhau và đặc biệt là những bài hò dân dã được ông sáng tác hát để tỏ tình, mang đậm chất người lính Cụ Hồ, đã trở thành kỷ niệm không thể phai mờ trong cuộc đời hai người:
“Thanh niên thì cháu Bác Hồ, thanh nữ cũng cháu mà là cháu dâu
Cháu dì dì gả cho ai, gả cho bộ đội C2 nha dì
Hò lơ, hó lơ, lắng tai nghe, giải phóng quân hò lờ…”.
Ông nói, bà chịu lấy ông từ khi thấy ông bị thương khi làm nhiệm vụ. Ông kể, trong một lần thực hiện nhiệm vụ tại khu vực biên giới, ông đã bị thương nặng do mảnh vỏ pháo cối gây ra. Dù được các y, bác sĩ, đồng đội và người dân tận tình cứu chữa, chăm sóc, giữ được mạng nhưng ông bị hư một mắt và để lại nhiều thương tật vĩnh viễn.
“Nghe tin ông trúng pháo cối, tôi lật đật chèo xuồng qua bờ bên tìm thì thấy ông ấy được đồng đội khiêng lên cán đi cấp cứu. Tay chân tôi bủn rủn, thấp thỏm ở nhà đợi tin ông. Sau khi ông xuất viện, tôi nhờ chị dâu tôi mang quà qua thăm ông, lúc đó còn trẻ, ngại ngùng, tôi không dám đi qua nhà ông một mình. Thấy ông bị thương nặng mà ý chí kiên cường, tôi thương nên chịu lấy ông” – bà Mỏng kể lại.

Chính những mất mát ấy lại càng thắt chặt tình cảm, khiến tình yêu của ông bà thêm sâu nặng, bền chặt. Tình yêu trong chiến tranh ấy kết quả ngọt, sau khi ông điều trị thương tích, tháng 10/1977, ông và bà tổ chức lễ hỏi, đến tháng 4/1978 làm đám cưới.
Đám cưới của họ diễn ra giản dị như chính tình yêu thời chiến, không váy cưới, không nhẫn vàng, cô dâu đội chiếc nón lá, mặc bộ bà ba theo về nhà chồng. Quà cưới của chú rể chỉ là đôi bông tai nhỏ nhưng với họ, đó là tài sản quý giá nhất của những năm tháng còn nhiều thiếu thốn.
Tình yêu thời chiến, gắn bó thời bình
Năm 1982, hoàn thành nhiệm vụ thiêng liêng với đất nước, người thương binh Nguyễn Văn Rượi xuất ngũ về địa phương. Mang trên mình nhiều vết thương, thuộc thương binh 1/4, ông vẫn tiếp tục tham gia công tác trong Hội Cựu chiến binh tại khu phố Lộc Vĩnh, phường An Tịnh từ năm 1990, đồng thời trở thành người chồng, người cha và người ông mẫu mực trong gia đình.
Bà Võ Thị Mỏng vẫn tiếp tục với công việc may đồ cho đến tận ngày nay. Bà cùng ông vun vén nuôi dạy 4 người con nên người. Nay ở tuổi già, ông bà còn hỗ trợ các con chăm cháu. Người dân trong xóm còn biết đến bà Mỏng như một nghệ nhân gói bánh khéo léo, với nhiều loại bánh dân gian quen thuộc như bánh ú, bánh ú lá tre, bánh tét…
Những công việc này không chỉ giúp bà tạo thêm thu nhập cho gia đình mà còn mang lại niềm vui, giữ gìn hương vị truyền thống quê hương. Vẫn giữ thói quen cũ, quần áo rách, bung chỉ, ông nhờ bà khâu vá. Những lúc tâm tình, trò chuyện, hay mỗi dịp con cháu tụ họp, ông bà nhắc nhau những khoảnh khắc, câu chuyện vui thuở thiếu thời để con cháu có thể hiểu về những khó khăn, gian khổ thời chiến vẫn có những tình cảm mộc mạc, giản dị nảy nở.

Nói đến người bạn đời đã đồng hành với mình qua chiến tranh và cả những năm tháng mưu sinh vất vả, người thương binh năm nào quay sang nhìn vợ rồi mỉm cười: “Tình cảm vợ chồng đâu phải lúc nào cũng ngọt ngào, yên ấm. Khi cuộc sống khó khăn, vất vả quá cũng có lúc cơm không lành, canh không ngọt. Trở về cuộc sống đời thường, tôi không có học cao nên ai thuê gì làm đó. Bươn chải nhiều công việc, được vợ động viên, chúng tôi gắn bó, cùng nuôi dạy con cháu đến ngày hôm nay. Đó là điều quý giá đối với tôi”.
Bà Mỏng cười hiền, nhìn sang chồng rồi tâm tình: “Mấy mươi năm bên nhau, cũng có lúc thấy ổng khó ưa lắm nhưng giờ già rồi lại thấy thương nhiều hơn. Chắc đến tuổi này, hạnh phúc chỉ đơn giản là mỗi sáng còn thấy nhau khỏe mạnh, còn hỏi han nhau vài câu là đủ”.
Chiến tranh đã lùi xa hơn nửa thế kỷ. Những người lính năm xưa giờ mái đầu đều đã bạc, những cô gái từng âm thầm làm hậu phương cũng đã trở thành bà, thành mẹ. Nhưng có những điều chưa bao giờ cũ: đó là tình yêu Tổ quốc, nghĩa tình quân – dân và sự thủy chung son sắt của những con người đã cùng đi qua khói lửa.
Câu chuyện của ông Nguyễn Văn Rượi và bà Võ Thị Mỏng không chỉ là một chuyện tình đẹp của thời chiến mà còn nhắc thế hệ hôm nay rằng: giữa bom đạn khốc liệt nhất, con người vẫn có thể gìn giữ những điều bình dị và đẹp đẽ nhất – lòng yêu nước, niềm tin vào ngày hòa bình và một tình yêu đủ lớn để cùng nhau đi hết cả cuộc đời./.

