
Mặt trận “đả viện” của trận Mộc Hóa
Sau Cách mạng Tháng Tám, thực dân Pháp nhanh chóng trở lại miền Nam, chúng thực hiện chiến lược “đánh nhanh thắng nhanh” và chiếm đóng hầu hết các tỉnh Nam Bộ. Lúc đó, Xứ ủy, Ủy ban Hành chính kháng chiến Nam Bộ và nhiều cơ quan cách mạng khác đều đang đóng tại Đồng Tháp Mười. Năm 1946, địch chiếm Mộc Hóa rồi đóng đồn tại đây, cùng với hệ thống các đồn khác, tạo thành thế bao vây án giữ Đồng Tháp Mười.
Trước tình hình đó, vào tháng 8/1948, ta quyết định đánh Mộc Hóa nhằm khơi thông hành lang chiến lược miền Đông và miền Tây Nam Bộ. Để chuẩn bị cho trận đánh này, lực lượng ta đã dành gần 2 tháng nghiên cứu và xây dựng chiến thuật “công đồn, đả viện”.
Trong khi Trung đoàn 120 đảm nhiệm tiến công đồn Mộc Hóa thì Tiểu đoàn 307 được giao nhiệm vụ phục kích lực lượng tiếp viện của địch từ biên giới Campuchia đổ về. Ngày 16/8/1948, ta tiến công đồn Mộc Hóa tại mặt trận công đồn. Sau đó, ở mặt trận “đả viện” nơi tiểu đoàn 307 đang chờ sẵn, phát hiện quân địch đi từ hướng đồn Mộc Hóa lên theo đường sông. Ta đã chặn đánh tại khu vực bến Ông Tờn. Chỉ trong khoảng 15 phút, quân ta làm chủ hoàn toàn trận địa, tiêu diệt 23 tên địch, bắt sống 6 tên, trong đó có viên trung úy đồn trưởng Louis Bertrand.
Ngày 18/8, cánh quân tiếp viện khác từ biên giới tiếp tục tiến về Mộc Hóa. Khi lọt vào trận địa mai phục của ta, bộ phận đi đầu nhanh chóng bị tiêu diệt. Lực lượng ta tiếp tục giành thắng lợi, gây tổn thất nặng nề cho quân Pháp, góp phần quan trọng làm nên thắng lợi của trận Mộc Hóa, chiến công đã đi vào thơ ca, âm nhạc.
Không lâu sau trận Mộc Hóa, dưới sức ép liên tục của lực lượng vũ trang và phong trào đấu tranh của nhân dân, quân Pháp buộc phải rút bỏ đồn Mộc Hóa. Hành lang chiến lược từ miền Đông sang miền Tây Nam Bộ được khai thông, tạo điều kiện giữ vững căn cứ kháng chiến.
Người anh hùng lấy thân mình lấp lỗ châu mai
Sau khi bỏ đồn Mộc Hóa, thực dân Pháp xây dựng đồn Ông Tờn vào năm 1949 ngay sát biên giới Việt Nam – Campuchia. Đồn được xây dựng rất kiên cố với tường dày gần 1m, nhiều lớp hàng rào kẽm gai, lỗ châu mai sát mặt đất, giao thông hào và hệ thống chông, mìn dày đặc.
Năm 1953, Ban Chỉ huy Tỉnh đội Tân Mỹ Gò quyết định tiến công đồn Ông Tờn. Tiểu đoàn 309 cùng lực lượng đặc công được giao nhiệm vụ chủ công. Trong tổ đặc công mở cửa có đồng chí Nguyễn Văn Tịch (đội trưởng).
Sau khi vượt qua nhiều lớp rào thép gai, tổ đặc công tiếp cận lỗ châu mai và đặt bộc phá. Tuy nhiên, quân địch phát hiện, lập tức đẩy quả bộc phá trở ngược ra ngoài. Trong khoảnh khắc ấy, Nguyễn Văn Tịch lấy chính thân mình ép chặt trái bộc phá vào lỗ châu mai rồi châm điện kích nổ. Tiếng nổ vang lên phá tung mảng tường lớn của lô cốt, đồng chí Nguyễn Văn Tịch bị hất văng xa 4-5m.
Lực lượng ta xung phong, tiêu diệt phần lớn quân địch trong đồn. Dù chưa thể tiêu diệt hoàn toàn đồn Ông Tờn nhưng chiến thắng đã buộc Pháp phải rút khỏi đồn, tháo chạy sang Campuchia. Và với chiến công của mình, người đặc công Nguyễn Văn Tịch được tuyên dương anh hùng.
Ngày nay, đồn Ông Tờn của Pháp không còn dấu tích gì lưu lại. Chiến trường xưa nay là khu vực cửa khẩu quốc tế Bình Hiệp. Xe cộ nối nhau, nhà mới mọc lên và bia tưởng niệm với lá cờ tung bay phất phới như lời nhắc về những chiến công lừng lẫy của năm xưa. Di tích lịch sử đồn Ông Tờn trở thành “địa chỉ đỏ”, nơi ghi dấu chiến thắng của Tiểu đoàn 307, cũng là lời nhắc nhở về ý chí kiên cường của quân và dân vùng Đồng Tháp Mười trong kháng chiến thông qua tấm gương người anh hùng Nguyễn Văn Tịch.
Hiện tại, di tích đồn Ông Tờn thuộc quản lý của UBND xã Bình Hiệp và đã được số hóa, thuận tiện cho việc tìm hiểu lịch sử khu di tích. Trưởng phòng Văn hóa – Xã hội xã Bình Hiệp Nguyễn Thị Anh Thư cho biết, vị trí đặt bia tưởng niệm hiện tại khá nhỏ, trên dải phân cách tuyến Quốc lộ 62, nên gây nhiều khó khăn cho công tác giáo dục truyền thống. “Hiện Phòng Văn hóa – Xã hội đã có đề xuất, xin ý kiến về việc dời bia tưởng niệm khu di tích về vị trí nhà văn hóa ấp Ông Nhan Tây (cũ) để có thêm không gian cho các hoạt động chăm sóc, giữ gìn khu di tích cũng như giáo dục truyền thống cho thế hệ trẻ” – bà Nguyễn Thị Anh Thư nói./.

