Người phụ nữ Việt Nam duy nhất được UNESCO công nhận Danh nhân Văn hóa Thế giới: Là tác giả của hàng trăm bài thơ, đời tư nhiều thăng trầm

Linh Chi 

Đây là nữ sĩ nổi tiếng, để lại dấu ấn đặc biệt trong nền thi ca Việt Nam, là một trong những gương mặt tiêu biểu của văn hóa dân tộc.

Trong lịch sử của Việt Nam ghi nhận nhiều người phụ nữ tài năng và có ảnh hưởng lớn trong các lĩnh vực chính trị, văn hóa, xã hội. Nổi bật trong số đó là Hồ Xuân Hương – nữ sĩ được mệnh danh là “Bà chúa thơ Nôm”. Với tài năng và cá tính độc đáo, bà đã để lại dấu ấn đặc biệt trong nền thi ca Việt Nam, trở thành một trong những gương mặt tiêu biểu của văn hóa dân tộc.

 

Nữ sĩ duy nhất của Việt Nam được UNSECO công nhận Danh nhân Văn hóa Thế giới

Hồ Xuân Hương sinh năm 1772, mất năm 1822, là con gái của ông Hồ Phi Diễn (1704-1786), một nho sĩ quê ở làng Quỳnh Đôi, nay là Quỳnh Lưu, Nghệ An. Mặc dù có nguồn gốc từ Nghệ An nhưng bà sớm được tiếp nhận văn hóa của nhiều vùng miền. Chính vì thế, bà có phong cách sáng tác thơ ca vừa mạnh mẽ, thẳng thắn lại vừa tinh tế, sâu sắc.

hoxuanhuong.jpg
Hồ Xuân Hương được mệnh danh là “Bà chúa thơ Nôm”. Ảnh minh họa.

Nhiều tư liệu cho rằng Hồ Xuân Hương sống và sáng tác vào giai đoạn cuối thế kỷ XVIII, chủ yếu dưới thời Tây Sơn. Tuy nhiên, một số nghiên cứu gần đây lại cho thấy phần lớn sáng tác của bà có thể ra đời vào đầu thế kỷ XIX, dưới triều Nguyễn. Dù còn nhiều ý kiến về mốc thời gian nhưng giới nghiên cứu đều bày tỏ sự ngưỡng mộ trước Hồ Xuân Hương, đánh giá bà là một trong những nhà thơ tiêu biểu của giai đoạn chuyển tiếp đầy biến động trong lịch sử xã hội và văn hóa Việt Nam.

Theo các tài liệu truyền lại, Hồ Xuân Hương là tác giả của hàng trăm tác phẩm, cả bằng chữ Nôm và chữ Hán. Các tập thơ của bà có thể kể đến như Thơ Nôm truyền tụng với hơn 100 bài; Lưu hương ký gồm 24 bài thơ chữ Hán và 28 bài thơ Nôm; Hương đình cổ nguyệt thi tập có 9 bài thơ chữ Hán; Đồ Sơn bát vịnh gồm 8 bài thơ chữ Hán; Đề Vịnh Hạ Long gồm 5 bài thơ chữ Hán…

Đặc biệt, nhiều bài thơ của bà được đưa vào sách giáo khoa để giảng dạy, tham khảo cho học sinh như Bánh trôi nước, Đánh đu, Dệt cửi, Vịnh cái quạt… Những bài thơ này đều có ngôn từ dí dỏm nhưng ẩn chứa những ý tứ sâu sắc về cuộc đời, đặc biệt là về thân phận người phụ nữ.

Nổi tiếng bởi trí tuệ, tài năng thơ ca, thông minh, sắc bén nhưng cuộc đời riêng của Hồ Xuân Hương lại có nhiều thăng trầm. Theo một số tài liệu nghiên cứu, bà từng trải qua hai cuộc hôn nhân. Trong một bài viết trên Tập san Khoa học Xã hội, Paris, số 12/1983, học giả Hoàng Xuân Hãn (1908-1996) có đưa thông tin, bà từng làm vợ Trần Phúc Hiển, con trai một công thần nhà Nguyễn, khi ông giữ chức Tham hiệp trấn Yên Quảng từ khoảng năm 1815 đến 1818, trước đó ông từng làm Tri phủ Vĩnh Tường. Chính những biến cố trong đời tư cũng là cảm hứng để bà sáng tác nên nhiều bài thơ nói về thân phận của người phụ nữ.

Với những đóng góp lớn cho văn học và tư tưởng xã hội, Hồ Xuân Hương được UNESCO công nhận là Danh nhân Văn hóa Thế giới trong dịp kỷ niệm 250 năm ngày sinh và 200 năm ngày mất của nữ sĩ. Đây là sự ghi nhận tài năng của bà, đồng thời khẳng định giá trị bền vững trong sáng tác của Hồ Xuân Hương, đặc biệt là tư tưởng đề cao con người, tinh thần bình đẳng giới và khát vọng giải phóng phụ nữ trong xã hội phong kiến.

hoxuanhuong2.jpg
Tượng nữ sĩ Hồ Xuân Hương trong khuôn viên Nhà thờ họ Hồ – Di tích văn hóa – lịch sử cấp Quốc gia ở Quỳnh Đôi. Ảnh: Đình Tuyên/Báo Nghệ An.

Tác phẩm được dịch ra 13 thứ tiếng

Với cá tính mạnh mẽ, giọng thơ, ca từ sắc bén, Hồ Xuân Hương được đánh giá là “ca lạ” của văn học Việt Nam. Không những thế, bà được nhiều học giả và nhà văn trên thế giới quan tâm, nghiên cứu. Các tác phẩm của bà được đánh giá cao bởi ngôn ngữ giàu tính biểu tượng, nhiều tầng ý nghĩa, cách biểu đạt sắc sảo nhưng vẫn tinh tế.
Theo thống kê đến năm 2021, tác phẩm của bà đã được dịch ra 13 ngôn ngữ khác nhau trên thế giới. Tuy nhiên, việc chuyển ngữ thơ Hồ Xuân Hương luôn được xem là một thử thách lớn đối với các dịch giả. Bởi vì ngôn ngữ trong thơ bà không chỉ giàu hình ảnh mà còn chứa nhiều lớp nghĩa ẩn dụ, chơi chữ và sắc thái văn hóa đặc trưng của tiếng Việt. Vậy nên khi dịch sang ngôn ngữ khác, các học giả và nhà thơ thường phải lựa chọn từ ngữ để vừa truyền tải được tinh thần vừa đảm bảo chiều sâu nghệ thuật của nguyên tác.

Sự độc đáo trong thi ca của Hồ Xuân Hương cũng khiến nhiều nhân vật văn hóa nổi tiếng trên thế giới bày tỏ sự ngưỡng mộ. Nhà thơ và triết gia Ấn Độ Rabindranath Tagore từng dành lời khen cho tài năng của bà. Nhà thơ Pháp Jean Ristat cũng đánh giá Hồ Xuân Hương là “một trong những tên tuổi lớn của văn học Việt Nam và chắc chắn là một trong những nữ sĩ tiêu biểu của châu Á”.

Những đánh giá từ giới học thuật, văn chương quốc tế cho thấy giá trị vượt thời gian của thơ Hồ Xuân Hương. Dù đã trải qua nhiều thế kỷ, thơ của bà vẫn tiếp tục được dịch thuật, nghiên cứu và lan tỏa rộng rãi trên thế giới.

Bài viết có tham khảo thông tin tại:

– Hội thảo khoa học quốc tế: Nữ sĩ Hồ Xuân Hương – Danh nhân văn hoá và giá trị di sản – Báo Chính phủ

– Hồ Xuân Hương: từ “Bà Chúa thơ Nôm” đến Danh nhân văn hóa thế giới – VOV2