ĐỀ CƯƠNG TUYÊN TRUYỀN KỶ NIỆM 96 NĂM NGÀY THÀNH LẬP ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM (03/02/1930 – 03/02/2026)

I. ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM RA ĐỜI LÀ BƯỚC NGOẶT VĨ
ĐẠI TRONG LỊCH SỬ CÁCH MẠNG VIỆT NAM
1. Bối cảnh lịch sử ra đời Đảng Cộng sản Việt Nam
1.1. Bối cảnh quốc tế
Từ cuối thế kỷ XIX, chủ nghĩa tư bản chuyển từ giai đoạn tự do cạnh
tranh sang chủ nghĩa đế quốc. Các nước tư bản đế quốc thực hiện chính sách:
Bên trong tăng cường bóc lột nhân dân lao động, bên ngoài gia tăng các hoạt
động xâm lược và áp bức nhân dân các dân tộc thuộc địa. Sự thống trị của chủ
nghĩa đế quốc làm đời sống nhân dân lao động trên thế giới trở nên cùng cực.
Mâu thuẫn giữa các dân tộc thuộc địa với chủ nghĩa thực dân ngày càng gay
gắt. Phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc diễn ra mạnh mẽ ở các nước thuộc
địa.
Năm 1917, với thắng lợi của Cách mạng tháng Mười Nga, chủ nghĩa
Mác-Lênin từ lý luận đã trở thành hiện thực, mở ra một thời đại mới trong lịch
sử loài người; là ánh sáng soi đường cho các dân tộc bị áp bức đứng lên đấu
tranh giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người.
Tháng 3 năm 1919, Quốc tế Cộng sản (Quốc tế III) ra đời đã thúc đẩy sự
phát triển mạnh mẽ phong trào cộng sản và công nhân quốc tế. Đối với Việt
Nam, Quốc tế Cộng sản có vai trò quan trọng trong việc truyền bá chủ nghĩa
Mác-Lênin và thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam.
1.2. Bối cảnh trong nước
– Năm 1858, thực dân Pháp xâm lược Việt Nam và từng bước thiết lập bộ
máy thống trị, biến nước ta từ một quốc gia phong kiến thành một xứ thuộc
địa, dân ta là vong quốc nô, Tổ quốc ta bị giày xéo dưới gót sắt của kẻ thù
hung ác. Chính sách thống trị của thực dân Pháp đã làm cho xã hội Việt Nam
có nhiều thay đổi.
Về chính trị, thực dân Pháp thi hành chính sách cai trị thực dân, tước bỏ
quyền lực đối nội, đối ngoại của chính quyền phong kiến nhà Nguyễn, đó là
một chính sách chuyên chế điển hình, chúng đàn áp đẫm máu các phong trào
và hành động yêu nước của người Việt Nam, mọi quyền tự do bị cấm. Chúng
chia rẽ ba nước Đông Dương, chia Việt Nam thành ba kỳ (Bắc Kỳ, Trung Kỳ,
Nam Kỳ) và thực hiện ở mỗi kỳ một chế độ cai trị riêng.
Về kinh tế, thực dân Pháp cấu kết với giai cấp địa chủ để thực hiện chính
sách bóc lột tàn bạo, cướp đoạt ruộng đất để lập đồn điền; ra sức vơ vét tài
nguyên, cùng nhiều hình thức thuế khóa nặng nề, vô lý; xây dựng một số cơ sở
công nghiệp, hệ thống đường giao thông, bến cảng phục vụ chính sách khai
thác thuộc địa.
Về văn hóa, thực dân Pháp tiến hành chính sách ngu dân, bưng bít, ngăn
cản ảnh hưởng của văn hóa tiến bộ trên thế giới, khuyến khích văn hóa độc hại,
xuyên tạc lịch sử, giá trị văn hóa Việt Nam và dung túng, duy trì các hủ tục lạc
hậu.
– Sự phân hóa giai cấp và mâu thuẫn xã hội diễn ra ngày càng gay gắt,
phần lớn giai cấp địa chủ cấu kết với thực dân Pháp ra sức bóc lột nông dân;
một bộ phận địa chủ có lòng yêu nước, đã tham gia đấu tranh chống Pháp dưới
các hình thức và mức độ khác nhau. Các giai cấp, tầng lớp khác trong xã hội
Việt Nam đều mang thân phận người dân mất nước và đều bị thực dân áp bức,
bóc lột, chèn ép nên đều căm phẫn thực dân Pháp. Do đó, mâu thuẫn cơ bản
trong xã hội Việt Nam lúc này là mâu thuẫn nông dân với giai cấp địa chủ và
phong kiến, mâu thuẫn ngày càng gay gắt giữa toàn thể nhân dân Việt Nam với
thực dân Pháp xâm lược.
Các cuộc khởi nghĩa và phong trào đấu tranh của quần chúng chống thực
dân Pháp xâm lược diễn ra mạnh mẽ nhưng đều bị thất bại, xã hội Việt Nam
rơi vào khủng hoảng về đường lối cách mạng.
Trước sự xâm lược của thực dân Pháp, các cuộc khởi nghĩa và các phong
trào đấu tranh của Nhân dân ta diễn ra liên tục và mạnh mẽ. Tuy nhiên, do
thiếu đường lối đúng đắn, thiếu tổ chức và lực lượng cần thiết nên các phong
trào đó đã lần lượt thất bại. Phong trào yêu nước theo ý thức hệ phong kiến
như phong trào Cần Vương đã chấm dứt với sự thất bại của cuộc khởi nghĩa
Hương Khê do Phan Đình Phùng lãnh đạo (1896); phong trào nông dân Yên
Thế của Hoàng Hoa Thám kéo dài 30 năm cũng không giành được thắng lợi.
Phong trào yêu nước theo khuynh hướng dân chủ tư sản do các cụ Phan Bội
Châu, Phan Chu Trinh, Lương Văn Can lãnh đạo cũng rơi vào bế tắc. Cuộc
khởi nghĩa Yên Bái do Nguyễn Thái Học lãnh đạo cũng bị thất bại,… Cách
mạng Việt Nam chìm trong cuộc khủng hoảng sâu sắc về đường lối cứu nước.
2. Nguyễn Ái Quốc tìm đường cứu nước và chuẩn bị thành lập Đảng
Cộng sản Việt Nam
Giữa lúc dân tộc ta đứng trước cuộc khủng hoảng về đường lối cứu nước
thì ngày 05/6/1911 người thanh niên Nguyễn Tất Thành (tức Nguyễn Ái Quốc,
Hồ Chí Minh sau này) ra đi tìm đường cứu nước theo phương hướng mới. Với
khát vọng cháy bỏng giành độc lập tự do cho dân, cho nước, Nguyễn Tất
Thành đã bất chấp mọi nguy hiểm, gian khổ, đi qua nhiều nước của châu Âu,
châu Phi, châu Mỹ và đã rút ra chân lý: Chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa đế quốc
thực dân là cội nguồn mọi đau khổ của công nhân và nhân dân lao động ở
chính quốc cũng như ở các nước thuộc địa.
– Đầu năm 1919, Nguyễn Tất Thành tham gia Đảng Xã hội Pháp. Tháng
6 năm 1919, với tên mới là Nguyễn Ái Quốc, Người thay mặt những người yêu
nước Việt Nam gửi đến Hội nghị Véc-xây Bản yêu sách của nhân dân An Nam
gồm 8 điểm đòi Chính phủ Pháp phải thừa nhận các quyền tự do dân chủ và
quyền bình đẳng của dân tộc Việt Nam.
– Tháng 7/1920, Nguyễn Ái Quốc được đọc bản “Sơ thảo lần thứ nhất
những Luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa” của Lênin đăng trên
báo Nhân đạo và cũng chính từ đây đã giải đáp cho Người con đường đấu
tranh giành độc lập tự do thực sự cho dân tộc, cho đồng bào mình.
– Từ ngày 25 đến 30/12/1920, Nguyễn Ái Quốc tham dự Đại hội lần thứ
18 Đảng Xã hội Pháp với tư cách đại biểu Đông Dương. Kết thúc Đại hội ngày
30/12/1920, Nguyễn Ái Quốc tán thành thành lập Đảng Cộng sản Pháp và trở
thành một trong những người sáng lập Đảng Cộng sản Pháp, và cũng là người
Cộng sản đầu tiên của dân tộc Việt Nam.
– Từ năm 1921 – 1930, Nguyễn Ái Quốc vừa tiếp tục hoạt động trong
Đảng Cộng sản Pháp, nghiên cứu bổ sung và hoàn thiện tư tưởng cứu nước,
vừa tích cực truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin vào phong trào công nhân và
phong trào yêu nước Việt Nam. Người tập trung chuẩn bị về tổ chức và cán bộ,
lập ra Hội Việt Nam cách mạng Thanh niên (1925), tổ chức nhiều lớp đào tạo
cán bộ tại Quảng Châu, Trung Quốc, đồng thời gửi cán bộ đi học tại trường
Đại học Phương Đông (Liên Xô) và trường Lục quân Hoàng Phố (Trung
Quốc).
Nhờ hoạt động không mệt mỏi của Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc và nhiều
đồng chí cách mạng tiền bối đến cuối năm 1929, đầu năm 1930, những điều
kiện cho sự ra đời của một Đảng vô sản ở Việt Nam đã chín muồi.
3. Thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam
– Đáp ứng những đòi hỏi của thực tiễn cách mạng, ngày 17/6/1929, Kỳ
Bộ Bắc Kỳ Hội Việt Nam cách mạng Thanh niên đã thành lập Đông Dương
Cộng sản Đảng tại Hà Nội. Tháng 11/1929, các đồng chí Tổng bộ và Kỳ Bộ
Nam Kỳ của Hội Việt Nam cách mạng Thanh niên quyết định thành lập An
Nam Cộng sản Đảng. Ngày 01/01/1930, những đại biểu ưu tú của Tân Việt
cách mạng Đảng (một tổ chức tiền thân của Đảng) đã họp và thành lập Đông
Dương Cộng sản Liên Đoàn ở Trung Kỳ. Tuy nhiên ở một nước có tới ba tổ
chức cộng sản nên không tránh khỏi sự phân tán về lực lượng và tổ chức,
không thể thống nhất về tư tưởng và hành động. Trách nhiệm lịch sử là phải
thành lập một Đảng Cộng sản duy nhất, chấm dứt tình trạng chia rẽ phong trào
Cộng sản ở Việt Nam.
– Từ ngày 06/01 đến ngày 07/02/1930, Hội nghị hợp nhất các tổ chức
Cộng sản thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam đã họp ở bán đảo Cửu Long
thuộc Hồng Kông (Trung Quốc) dưới sự chủ trì của đồng chí Nguyễn Ái Quốc
thay mặt cho Quốc tế Cộng sản. Trong Hội nghị thành lập Đảng, đồng chí
Nguyễn Ái Quốc đề ra 5 điểm lớn cần thảo luận và thống nhất, trước hết là tự
phê bình và phê bình, “Bỏ mọi thành kiến xung đột cũ, thành thật hợp tác để
thống nhất các nhóm cộng sản Đông Dương”. Hội nghị đã nhất trí thống nhất
các tổ chức cộng sản thành lập một đảng, lấy tên là Đảng Cộng sản Việt Nam.
Hội nghị đã thông qua các văn kiện gồm: Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn
tắt, Chương trình tóm tắt, Điều lệ vắn tắt của Đảng và Lời kêu gọi của đồng chí
Nguyễn Ái Quốc thay mặt Quốc tế Cộng sản và Đảng Cộng sản Việt Nam gửi
đến công nhân, nông dân, binh lính, thanh niên, học sinh và tất cả đồng bào bị
áp bức, bóc lột nhân dịp thành lập Đảng. Trong đó, Chánh cương vắn tắt của
Đảng và sách lược vắn tắt của Đảng phản ánh nội dung cương lĩnh chính trị
đầu tiên của Đảng Cộng sản Việt Nam. Hội nghị hợp nhất các tổ chức Cộng
sản có ý nghĩa như Đại hội thành lập Đảng.
Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng (9/1960) đã quyết
nghị lấy ngày 3 tháng 2 dương lịch mỗi năm làm ngày kỷ niệm thành lập Đảng
Cộng sản Việt Nam.
4. Ý nghĩa lịch sử sự ra đời Đảng Cộng sản Việt Nam và Cương lĩnh
chính trị đầu tiên của Đảng
– Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời với Cương lĩnh chính trị đầu tiên đã
mở ra thời kì mới cho cách mạng Việt Nam – thời kì đấu tranh giành độc lập
dân tộc tiến lên chủ nghĩa xã hội. Cương lĩnh đầu tiên của Đảng ra đời, đã xác
định được những nội dung cơ bản nhất của con đường cách mạng Việt Nam;
đáp ứng được những nhu cầu bức thiết của lịch sử và trở thành ngọn cờ tập
hợp, đoàn kết thống nhất các tổ chức cộng sản, các lực lượng cách mạng và
toàn thể dân tộc.
– Sự kiện thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam là một bước ngoặt vô cùng
quan trọng của lịch sử cách mạng Việt Nam, quyết định sự phát triển của dân
tộc, chấm dứt sự khủng hoảng về đường lối và tổ chức lãnh đạo của phong trào
yêu nước Việt Nam đầu thế kỷ XX. Đó là kết quả của sự vận động, phát triển
và thống nhất phong trào cách mạng trong cả nước; sự chuẩn bị công phu về
mọi mặt của Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc và sự đoàn kết nhất trí của những chiến
sỹ tiên phong vì lợi ích của giai cấp, của dân tộc.
– Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là thành quả của sự kết hợp chủ nghĩa
Mác-Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam; chứng
tỏ giai cấp công nhân Việt Nam đã trưởng thành, đủ sức lãnh đạo cách mạng.
– Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời và việc Đảng chủ trương cách mạng
Việt Nam là một bộ phận của phong trào cách mạng thế giới, đã tranh thủ được
sự ủng hộ to lớn của cách mạng thế giới, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức
mạnh của thời đại làm nên những thắng lợi vẻ vang; đồng thời đóng góp tích
cực vào sự nghiệp đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc và tiến bộ của nhân
loại trên thế giới.
II. NHỮNG MỐC SON CHÓI LỌI VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM
TRÊN CHẶNG ĐƯỜNG 96 NĂM VINH QUANG CỦA ĐẢNG
1. Đảng lãnh đạo đấu tranh giành chính quyền (1930 – 1945)
Sau khi ra đời, Đảng đã lãnh đạo Nhân dân đấu tranh giải phóng dân tộc,
giành chính quyền với 3 cao trào cách mạng có ý nghĩa to lớn đưa đến thắng
lợi của cuộc Cách mạng tháng Tám năm 1945. Đó là:
– Cao trào cách mạng 1930 – 1931 mà đỉnh cao là phong trào Xô Viết –
Nghệ Tĩnh: Làm rung chuyển chế độ thống trị của đế quốc Pháp và tay sai.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng quần chúng cách mạng đã vùng dậy trừng trị bọn
cường hào, phản động, tay sai thực dân Pháp, thành lập chính quyền cách
mạng ở một số nơi theo hình thức Xô Viết. Cao trào cách mạng 1930 – 1931 đã
khẳng định đường lối cách mạng Việt Nam do Đảng đề ra là đúng đắn và để lại
những bài học quý báu về xây dựng liên minh công – nông, về xây dựng Mặt
trận Dân tộc Thống nhất, về phát động phong trào quần chúng đấu tranh giành
và bảo vệ chính quyền.
– Cao trào cách mạng đòi dân sinh, dân chủ (1936 – 1939): Bằng sức
mạnh đoàn kết của quần chúng, dưới sự lãnh đạo của Đảng đã buộc chính
quyền thực dân phải nhượng bộ một số yêu sách về dân sinh, dân chủ; quần
chúng được giác ngộ về chính trị và trở thành lực lượng chính trị hùng hậu của
cách mạng; Đảng đã tích lũy được nhiều bài học kinh nghiệm trong việc xây
dựng Mặt trận Dân tộc Thống nhất, kinh nghiệm tổ chức, lãnh đạo quần chúng
đấu tranh công khai, hợp pháp…
– Cao trào cách mạng giải phóng dân tộc (1939 – 1945) dưới sự lãnh đạo
sáng suốt, kiên quyết của Đảng, đứng đầu là Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc cùng
với sự đoàn kết, chiến đấu ngoan cường và hy sinh to lớn của biết bao đảng
viên cộng sản, chiến sĩ và đồng bào yêu nước đã kết thúc thắng lợi bằng cuộc
Cách mạng tháng Tám năm 1945.
Thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945 đã phá tan sự thống trị
của thực dân gần một trăm năm và lật đổ chế độ phong kiến đè nặng lên Nhân
dân ta mấy mươi thế kỷ, mở ra bước ngoặt vĩ đại của cách mạng, đưa dân tộc
Việt Nam bước sang kỷ nguyên mới; kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với
chủ nghĩa xã hội, Nhân dân ta từ thân phận nô lệ đã trở thành người làm chủ
đất nước, làm chủ xã hội. Ngày 02/9/1945, tại quảng trường Ba Đình lịch sử,
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt
Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam) –
Nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam châu Á. Đây là lần đầu tiên trong
lịch sử cách mạng của các dân tộc thuộc địa, một Đảng mới 15 tuổi đã lãnh đạo
cách mạng thành công, đã nắm chính quyền toàn quốc.
2. Đảng lãnh đạo đấu tranh giải phóng dân tộc và thống nhất đất
nước (1945 – 1975)
2.1. Xây dựng và bảo vệ chính quyền cách mạng, toàn quốc kháng
chiến chống thực dân Pháp và can thiệp Mỹ (1945 – 1954)
– Trong những năm 1945 – 1946, Đảng ta đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí
Minh lãnh đạo xây dựng và củng cố vững chắc chính quyền nhân dân, bầu cử
Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (06/01/1946); xây dựng và thông
qua Hiến pháp dân chủ đầu tiên (09/11/1946); chăm lo xây dựng chế độ mới,
đời sống mới của Nhân dân, chống giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm; tổ chức
kháng chiến chống thực dân Pháp ở Nam Bộ và Nam Trung Bộ với sự ủng hộ
và chi viện của cả nước; kiên quyết trấn áp các thế lực phản cách mạng, bảo vệ
chính quyền và thành quả Cách mạng tháng Tám; đồng thời thực hành sách
lược khôn khéo, đưa cách mạng vượt qua những thử thách hiểm nghèo. Đảng
đã chủ động chuẩn bị những điều kiện cần thiết để đối phó với cuộc chiến
tranh xâm lược của thực dân Pháp trên phạm vi cả nước.
Tháng 12/1946, trước dã tâm xâm lược nước ta một lần nữa của thực dân
Pháp, Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phát động toàn quốc kháng chiến với
quyết tâm “Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước,
nhất định không chịu làm nô lệ”. Bằng đường lối kháng chiến toàn dân, toàn
diện, lâu dài, dựa vào sức mình là chính, đồng thời tranh thủ sự đồng tình và
ủng hộ của bạn bè quốc tế, Đảng đã lãnh đạo Nhân dân ta lần lượt đánh bại các
kế hoạch chiến tranh của thực dân Pháp giành thắng lợi mà đỉnh cao là chiến
thắng lịch sử Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”, buộc
Chính phủ Pháp phải ký kết Hiệp định Giơnevơ về đình chỉ chiến sự ở Việt
Nam chấm dứt sự thống trị của thực dân Pháp ở nước ta.
2.2. Kháng chiến chống Mỹ, cứu nước và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở
miền Bắc (1954 – 1975)
– Sau khi Hiệp định Giơnevơ được ký kết, miền Bắc hoàn toàn giải
phóng, Nhân dân ta bắt tay vào xây dựng, khôi phục kinh tế – văn hóa, xây
dựng chủ nghĩa xã hội; ở miền Nam, đế quốc Mỹ phá hoại Hiệp định Giơnevơ,
hất chân thực dân Pháp, biến miền Nam thành thuộc địa kiểu mới và căn cứ
quân sự của chúng. Nhiệm vụ của Đảng ta trong giai đoạn này hết sức nặng nề,
đó là phải lãnh đạo cách mạng Việt Nam tiến hành đồng thời hai nhiệm vụ
chiến lược gồm cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam và cách
mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc.
– Đảng ta đã lãnh đạo toàn dân nêu cao quyết tâm đánh Mỹ, thực hiện
đường lối chiến tranh nhân dân bằng tầm cao khoa học và nghệ thuật. Với một
đế quốc hùng mạnh bậc nhất thế giới, Đảng ta chủ trương đánh lâu dài; kết hợp
đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang và hoạt động binh vận; kết hợp tiến
công và nổi dậy, tiến hành đấu tranh trên cả ba vùng (đồng bằng, thành thị và
miền núi); kết hợp mặt trận quân sự, chính trị với mặt trận ngoại giao; phát huy
cao độ chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa anh hùng cách mạng; phát huy sức
mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và sức mạnh thời đại. Bằng đường lối lãnh đạo
đúng đắn, sáng suốt và tinh thần đấu tranh anh dũng kiên cường, bất khuất, bất
chấp mọi gian khổ hy sinh của Nhân dân ta, cùng với sự giúp đỡ to lớn của các
nước xã hội chủ nghĩa và nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới, Đảng đã
lãnh đạo Nhân dân ta lần lượt đánh bại các chiến lược chiến tranh tàn bạo của
đế quốc Mỹ, giành nhiều thắng lợi vẻ vang mà đỉnh cao là chiến dịch Hồ Chí
Minh lịch sử, kết thúc 30 năm chiến tranh giải phóng dân tộc, giải phóng hoàn
toàn miền Nam, thống nhất đất nước. Đây là một trong những trang chói lọi
nhất của lịch sử dân tộc, là một sự kiện có tầm quốc tế và có tính thời đại sâu
sắc.
– Song song với cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Đảng đã lãnh
đạo Nhân dân miền Bắc khắc phục hậu quả chiến tranh, khôi phục kinh tế – xã
hội, tiến hành cải tạo xã hội chủ nghĩa và đưa miền Bắc quá độ lên chủ nghĩa
xã hội. Sau 21 năm xây dựng chủ nghĩa xã hội, miền Bắc đã giành được những
thành tựu quan trọng, chuẩn bị cơ sở vật chất, kỹ thuật ban đầu cho chủ nghĩa
xã hội; vừa sản xuất, vừa chiến đấu và chi viện sức người, sức của, hoàn thành
vai trò hậu phương lớn đối với tiền tuyến lớn miền Nam.
3. Thời kỳ tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa trên cả nước, thực
hiện công cuộc đổi mới đất nước từ năm 1975 đến nay
3.1. Từ năm 1975 đến năm 1986
Sau giải phóng miền Nam, đất nước ta gặp muôn vàn khó khăn, Đảng đã
lãnh đạo Nhân dân vừa ra sức khôi phục kinh tế – xã hội vừa chiến đấu bảo vệ
biên giới phía Bắc và Tây Nam, bảo vệ độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ
thiêng liêng của Tổ quốc, làm tròn nghĩa vụ quốc tế cùng với quân dân
Campuchia chiến thắng chế độ diệt chủng; đồng thời tập trung lãnh đạo xây
dựng cơ sở vật chất của chủ nghĩa xã hội, từng bước hình thành cơ cấu kinh tế
mới trong cả nước, cải thiện đời sống vật chất, tinh thần của Nhân dân lao
động. Tuy nhiên, việc duy trì lâu dài mô hình, cơ chế kinh tế tập trung bao cấp
không còn phù hợp và đã bộc lộ những hạn chế, nhược điểm; việc hoạch định
và thực hiện đường lối cách mạng xã hội chủ nghĩa, có lúc, có nơi đã mắc sai
lầm khuyết điểm chủ quan, duy ý chí. Đó cũng là một trong những nguyên
nhân dẫn đến sự trì trệ, khủng hoảng kinh tế – xã hội trong những năm đầu cả
nước đi lên chủ nghĩa xã hội. Trước những thách thức của thời kỳ mới, Đảng ta
đã tổng kết thực tiễn, tìm tòi, hoạch định đường lối đổi mới, ban hành Nghị
quyết số 21-NQ/TW ngày 20/9/1979 của Hội nghị Trung ương 6 (khóa IV) về
“Phương hướng nhiệm vụ phát triển công nghiệp hàng tiêu dùng và công
nghiệp địa phương”; Chỉ thị 100- CT/TW ngày 13/01/1981 của Ban Bí thư về
“Cải tiến công tác khoán, mở rộng khoán sản phẩm đến nhóm lao động và
người lao động trong hợp tác xã nông nghiệp”; Quyết định 25/QĐ-CP ngày
21/01/1981 của Chính phủ về đổi mới quản lý kinh tế quốc doanh; Nghị quyết
Hội nghị Trung ương 8, khóa V (tháng 6/1985) thừa nhận sản xuất hàng hóa và
những quy luật của sản xuất hàng hóa; Kết luận của Bộ Chính trị (tháng
8/1986) về 3 quan điểm kinh tế trong tình hình mới…
3.2. Từ năm 1986 đến nay
Trên cơ sở đánh giá tình hình đất nước và qua quá trình tìm tòi, khảo
nghiệm, Đại hội VI của Đảng (tháng 12/1986) đã đưa ra đường lối đổi mới
toàn diện đất nước, mở ra bước ngoặt quan trọng trong sự nghiệp xây dựng chủ
nghĩa xã hội ở nước ta.
Trước bối cảnh mô hình chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ,
hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới tạm thời lâm vào thoái trào, Đại hội VII của
Đảng (tháng 6/1991) khẳng định tiếp tục đổi mới đồng bộ, triệt để trên các lĩnh
vực với những bước đi, cách làm phù hợp và giữ vững định hướng xã hội chủ
nghĩa. Đại hội đã thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá
độ lên chủ nghĩa xã hội, xác định những quan điểm và phương hướng phát
triển đất nước, khẳng định chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền
tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động của Đảng.
Các nghị quyết của Đảng từ Đại hội VIII đến nay tiếp tục khẳng định sự
kiên định, kiên trì thực hiện đường lối đổi mới đất nước và hội nhập quốc tế.
Hệ thống quan điểm lý luận về công cuộc đổi mới, về chủ nghĩa Mác-Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh, về xây dựng và chỉnh đốn Đảng trong tình hình mới
không ngừng được bổ sung và phát triển. Đảng Cộng sản Việt Nam từng bước
hoàn thiện và cụ thể hóa toàn diện các định hướng đổi mới, phát triển, xác định
rõ trọng tâm trong từng giai đoạn. Ban Chấp hành Trung ương Đảng các khóa
đã ban hành nhiều nghị quyết về những vấn đề quan trọng trong công tác xây
dựng, chỉnh đốn Đảng, nhất là Nghị quyết Trung 4 khóa XII, XIII với quan
điểm nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật, đánh giá giá đúng sự thật, gắn chặt
phòng với chủ động tiến công để xây dựng Đảng trong sạch vững mạnh, qua
đó tạo sự chuyển biến tích cực trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, nâng
cao niềm tin của cán bộ, đảng viên và Nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và
chế độ; Quốc hội không ngừng bổ sung, hoàn thiện, thể chế hóa Hiến pháp, hệ
thống pháp luật, tạo cơ sở pháp lý ngày càng đồng bộ, phù hợp cho quá trình
đổi mới; lãnh đạo Chính phủ cụ thể hóa thành các cơ chế, chính sách và giải
pháp quản lý, quản trị phát triển đất nước, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ
nghĩa.
Sau 35 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ
lên chủ nghĩa xã hội (1991) và 40 năm thực hiện đường lối đổi mới do Đảng ta
khởi xướng và lãnh đạo; với ý chí độc lập, tự chủ, tự cường, khát vọng xây
dựng và phát triển đất nước, toàn Đảng, toàn dân và toàn quân quyết tâm xây
dựng nước Việt Nam giàu mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, Nhân dân có
cuộc sống ấm no, hạnh phúc. Từ một nước nghèo nàn, lạc hậu, trình độ thấp, bị
bao vây, cấm vận, nước ta đã trở thành nước đang phát triển, có thu nhập trung
bình, hội nhập sâu, rộng vào nền chính trị thế giới, nền kinh tế toàn cầu, nền
văn minh nhân loại, đảm nhiệm nhiều trọng trách quốc tế. Độc lập, chủ quyền,
thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ được giữ vững, lợi ích quốc gia dân tộc được
bảo đảm.
Riêng năm 2025, trong khi nhiều quốc gia chống suy thoái, kinh tế Việt
Nam đã bứt phá ngoạn mục, cả năm ước đạt 8,02%, bình quân giai đoạn đạt
6,3%, thuộc nhóm cao của khu vực và trên thế giới; quy mô nền kinh tế tăng từ
346 tỷ USD năm 2020 lên 514 tỷ USD năm 2025, tăng 5 bậc, lên vị trí 32 thế
giới. GDP bình quân đầu người năm 2025 ước đạt khoảng 5.000 USD, gấp 1,4
lần năm 2020, chính thức vào nhóm thu nhập trung bình cao; tổng kim ngạch
xuất nhập khẩu cả năm ước đạt hơn 920 tỷ USD, đưa Việt Nam vào nhóm 15
nước có quy mô thương mại lớn nhất thế giới và khẳng định vững chắc vai trò
mắt xích quan trọng của Việt Nam trong chuỗi cung ứng toàn cầu; duy trì 10
năm xuất siêu liên tiếp (năm 2025 xuất siêu trên 21 tỷ USD); hoàn thành mục
tiêu cơ bản xóa nhà tạm, nhà dột nát sớm 5 năm 4 tháng với hơn 334.000 căn
nhà; hoàn thành mục tiêu xây dựng hơn 102 nghìn căn nhà ở xã hội trong năm
2025, bảo đảm “an cư lạc nghiệp”, mang lại hạnh phúc cho người dân; hạ tầng
tập trung hơn vào tính đồng bộ, liên kết các công trình chiến lược mở rộng
không gian phát triển và nâng cao giá trị sử dụng đất (như hạ tầng đường cao
tốc, sân bay, bến cảng, đường sắt tốc độ cao, đường sắt đô thị, trung tâm tài
chính quốc tế, khu thương mại tự do…); hạ tầng xã hội và hạ tầng số được đầu
tư đồng bộ hơn, thúc đẩy chuyển đổi số và nâng cao chất lượng dịch vụ
công. Đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân không ngừng được nâng
cao; theo Liên hợp quốc, chỉ số hạnh phúc của Việt Nam năm 2025 xếp thứ 46,
tăng 37 bậc so với năm 2020 (xếp thứ 83). Chỉ số phát triển bền vững của Việt
Nam xếp hạng 51/165, tăng 37 bậc so với năm 2016.
Vai trò, vị thế và trách nhiệm quốc tế của Việt Nam tiếp tục được khẳng
định trong các cơ chế đa phương khu vực và toàn cầu, góp phần nâng cao uy
tín và khả năng tham gia định hình luật chơi. Mạng lưới đối ngoại ngày càng
rộng mở và cân bằng, quan hệ ngoại giao với 195 quốc gia, trong đó có 42 đối
tác toàn diện và chiến lược, phản ánh rõ đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa
phương hóa, đa dạng hóa phù hợp với yêu cầu phát triển của đất nước trong
bối cảnh mới. Qua đó, tiếp tục mở rộng không gian phát triển, kiến tạo cơ hội
đột phá, tranh thủ tối đa các nguồn lực và điều kiện thuận lợi bên ngoài để tăng
trưởng nhanh, bền vững, nâng cao giá trị chiến lược và vị thế của Việt Nam
trong nền kinh tế thế giới, nền chính trị toàn cầu và nền văn minh nhân loại.
Tại Hội nghị lần thứ 15, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII đã
thống nhất đánh giá: Lịch sử gần 100 năm Đảng cộng sản Việt Nam Lãnh đạo
Cách mạng Việt Nam đã đạt được những thành tựu vĩ đại, có ý nghĩa lịch sử to
lớn. Thực hiện Cương lĩnh năm 1991 và Cương lĩnh sửa đổi, bổ sung năm
2011 hoàn chỉnh thời kỳ quá độ tiến lên Chủ nghĩa xã hội đã khẳng định đường
lối đổi mới của Đảng ta là đúng đắn, sáng tạo, phù hợp; con đường đi lên Chủ
nghĩa xã hội của Đất nước ta là nhu cầu thực tiễn Việt Nam và xu thế thời đại.
40 năm đổi mới, trong đó có những đóng góp nổi bật của nhiệm kỳ Đại hội
XIII của Đảng, là kết quả của cả một quá trình nỗ lực phấn đấu bền bỉ, liên tục,
quyết liệt, là sản phẩm kết tinh của tinh thần, ý chí dân tộc của Đảng, Nhà
nước, Nhân dân. Qua đó chúng ta đã đúc kết được những bài học quý báu
mang tầm lý luận cao, có giá trị định hướng thực tiễn cho sự nghiệp Cách
mạng của dân tộc ta trong kỷ nguyên mới.
4. Những bài học kinh nghiệm của Đảng Cộng sản Việt Nam
Thực tiễn phong phú của cách mạng Việt Nam trong suốt 96 năm qua,
Đảng ta đã tích lũy và đúc rút được nhiều bài học kinh nghiệm lớn:
Một là, nắm vững ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội – ngọn cờ
vinh quang mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trao lại cho thế hệ hôm nay và các thế
hệ mai sau. Độc lập dân tộc là điều kiện tiên quyết để thực hiện chủ nghĩa xã
hội và chủ nghĩa xã hội là cơ sở bảo đảm vững chắc cho độc lập dân tộc. Xây
dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa là hai nhiệm vụ
chiến lược có quan hệ chặt chẽ với nhau.
Hai là, sự nghiệp cách mạng là của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân
dân. Chính Nhân dân là người làm nên những thắng lợi lịch sử. Toàn bộ hoạt
động của Đảng phải xuất phát từ lợi ích và nguyện vọng chính đáng của Nhân
dân. Sức mạnh của Đảng là ở sự gắn bó mật thiết với Nhân dân. Quan liêu,
tham nhũng, xa rời Nhân dân sẽ dẫn đến những tổn thất khôn lường đối với
vận mệnh của đất nước, của chế độ xã hội chủ nghĩa và của Đảng.
Ba là, không ngừng củng cố, tăng cường đoàn kết: Đoàn kết toàn Đảng,
đoàn kết toàn dân, đoàn kết dân tộc, đoàn kết quốc tế. Đó là truyền thống quý
báu và là nguồn sức mạnh to lớn của cách mạng nước ta. Chủ tịch Hồ Chí
Minh đã tổng kết: Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết – Thành công, thành công,
đại thành công.
Bốn là, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, sức mạnh trong
nước với sức mạnh quốc tế. Trong bất cứ hoàn cảnh nào cũng cần kiên định ý
chí độc lập, tự chủ, nêu cao tinh thần hợp tác quốc tế, phát huy cao độ nội lực,
đồng thời tranh thủ ngoại lực, kết hợp yếu tố truyền thống với yếu tố hiện đại.
Năm là, sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định
thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Đảng không có lợi ích nào khác ngoài việc
phụng sự Tổ quốc, phục vụ Nhân dân. Đảng phải nắm vững, vận dụng sáng
tạo, góp phần phát triển chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh,
không ngừng làm giàu trí tuệ, nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức
và năng lực tổ chức để đủ sức giải quyết các vấn đề do thực tiễn cách mạng đặt
ra. Mọi đường lối, chủ trương của Đảng phải xuất phát từ thực tế, tôn trọng
quy luật khách quan. Phải phòng và chống những nguy cơ lớn: sai lầm về
đường lối, bệnh quan liêu và sự thoái hoá, biến chất của cán bộ, đảng viên.
III. PHÁT HUY TRUYỀN THỐNG VẺ VANG, TÍCH CỰC XÂY
DỰNG, CHỈNH ĐỐN ĐẢNG VÀ HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ TRONG
SẠCH, VỮNG MẠNH, XÂY DỰNG VIỆT NAM HÙNG CƯỜNG, THỊNH
VƯỢNG, NHÂN DÂN HẠNH PHÚC
1. Những truyền thống vẻ vang của Đảng Cộng sản Việt Nam
Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta xây dựng nên nhiều truyền
thống quý báu, thể hiện bản chất tốt đẹp.
Đó là truyền thống trung thành vô hạn với lợi ích của dân tộc và giai cấp,
kiên định mục tiêu, lý tưởng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội trên
cơ sở chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Chỉ có đi theo con
đường cách mạng mà Đảng ta và Bác Hồ đã lựa chọn thì cách mạng Việt Nam
mới giành được thắng lợi trọn vẹn, đất nước ta mới thật sự được độc lập; dân
tộc ta mới thật sự được tự do; Nhân dân ta mới có cuộc sống ngày càng ấm no,
hạnh phúc.
Đó là truyền thống giữ vững độc lập, tự chủ về đường lối; nắm vững, vận
dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin, tham khảo kinh nghiệm của
quốc tế để đề ra đường lối đúng đắn và tổ chức thực hiện có hiệu quả các
nhiệm vụ cách mạng. Trong mỗi giai đoạn, Đảng ta luôn thấm nhuần quan
điểm chân lý là cụ thể, cách mạng là sáng tạo, xuất phát từ thực tiễn Việt Nam
để xác định phương hướng, nhiệm vụ, phương pháp của cách mạng Việt Nam.
Đó là truyền thống gắn bó máu thịt giữa Đảng với Nhân dân, luôn luôn
lấy việc phục vụ Nhân dân làm lẽ sống và mục tiêu phấn đấu. Nhân dân ta đã
nuôi dưỡng và bảo vệ Đảng từ những ngày đầu, hết lòng tin yêu Đảng, ủng hộ
và ra sức phấn đấu thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng. Sức mạnh vô tận
của Nhân dân làm nên sức mạnh vô địch của Đảng; nguồn gốc sức mạnh của
Đảng là ở sự gắn bó máu thịt với Nhân dân, phát huy sức mạnh của khối đại
đoàn kết toàn dân.
Đó là truyền thống đoàn kết thống nhất, có tổ chức và kỷ luật chặt chẽ
trên cơ sở nguyên tắc tập trung dân chủ, tự phê bình, phê bình và tình thương
yêu đồng chí. Trải qua những thử thách khắc nghiệt trong nhà tù đế quốc, trước
lưỡi lê, họng súng của kẻ thù hay trên chiến trường lửa đạn, những người cộng
sản Việt Nam đã nêu những tấm gương sáng ngời về tinh thần đoàn kết gắn bó,
thương yêu nhau; về tình đồng chí, đồng đội. Chính tình nghĩa cộng sản đó đã
gắn kết những người cách mạng Việt Nam thành một đội tiên phong gang thép
được Nhân dân tin yêu, bạn bè ngưỡng mộ, kẻ thù khiếp sợ; tạo thành sức
mạnh để Đảng ta vượt qua mọi thử thách, hy sinh, giữ vững niềm tin và giương
cao ngọn cờ lãnh đạo.
Đó là truyền thống đoàn kết quốc tế thủy chung, trong sáng dựa trên
những nguyên tắc và mục tiêu cao cả. Đây là cơ sở vững chắc để Đảng ta hình
thành và thực hiện thành công đường lối đối ngoại đúng đắn qua các thời kỳ,
phát huy đến đỉnh cao sự kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, đưa
cách mạng Việt Nam liên tục phát triển.
Những truyền thống quý báu của Đảng ta là sự kế thừa và phát huy
truyền thống tốt đẹp của dân tộc, của giai cấp công nhân Việt Nam và giai cấp
công nhân quốc tế trên một tầm cao mới của thời đại; là sức mạnh bảo đảm vai
trò lãnh đạo của Đảng; là kết quả của quá trình vun trồng, xây đắp bền bỉ, là sự
hy sinh xương máu, phấn đấu không mệt mỏi của các thế hệ cán bộ, đảng
viên.
Những truyền thống ấy của Đảng có ý nghĩa dân tộc và ý nghĩa quốc tế
sâu sắc, thể hiện tinh thần cách mạng triệt để. Ngay từ khi mới ra đời, Đảng đã
nắm bắt đúng xu thế phát triển của thời đại, gắn phong trào cách mạng Việt
Nam với phong trào cách mạng thế giới, giải quyết đúng đắn vấn đề độc lập
dân tộc với chủ nghĩa xã hội. Trên con đường phát triển, Đảng ta đã không
ngừng đưa ra những quyết sách phù hợp, đáp ứng yêu cầu lịch sử, vượt qua
mọi khó khăn, thử thách, đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến
thắng lợi khác.
2. Tăng cường xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững
mạnh; xây dựng đất nước giàu mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh
Trong 96 năm qua, Đảng ta nỗ lực không ngừng, bám sát tình hình thực
tiễn trong nước và thế giới để ban hành các quyết sách, chiến lược đúng đắn,
sáng tạo đưa cách mạng Việt Nam vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, hy sinh để
có những thắng lợi vĩ đại, vinh quang, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam
xã hội chủ nghĩa ngày càng phát triển vững mạnh, đời sống Nhân dân ngày
càng ấm no, hạnh phúc. Đảng ta đã không ngừng tự đổi mới, dành nhiều thời
gian và công sức cho công tác xây dựng Đảng, xác định xây dựng Đảng là
nhiệm vụ then chốt, xuyên suốt trong các nhiệm kỳ của Đảng.
Từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XIII của Đảng, Ban Chấp hành Trung ương
Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã thực hiện toàn diện, đồng bộ, sâu sắc nhiệm
vụ về xây dựng Đảng, đáp ứng yêu cầu trong giai đoạn mới, như: Công tác tư
tưởng tiếp tục đổi mới mạnh mẽ, góp phần tạo sự thống nhất trong Đảng và
đồng thuận xã hội; học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách của Chủ
tịch Hồ Chí Minh gắn với thực hiện trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng
viên đạt kết quả tốt; công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực tiếp
tục được đẩy mạnh, với tinh thần làm đến nơi đến chốn, không né tránh,
“không có vùng cấm”, “không có ngoại lệ”, “xử lý một vụ, cảnh tỉnh cả vùng,
cả lĩnh vực”; công tác kiểm tra, giám sát được chú trọng, xử lý nghiêm cán bộ,
đảng viên vi phạm pháp luật, góp phần siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong Đảng;
công tác dân vận, dân chủ cơ sở đã chuyển mạnh từ tuyên truyền, vận động
sang tham mưu chính sách, giám sát và tổ chức thực thi, hướng tới mục tiêu
chăm lo thiết thực đời sống vật chất, văn hóa, tinh thần của Nhân dân.
Từ cuối năm 2024 đến nay, Bộ Chính trị đã ban hành 7 nghị quyết mang
tính đột phá về đường lối, thể chế, chính sách, tạo nền tảng vững chắc để đất
nước sẵn sàng bước vào kỷ nguyên mới: Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá
phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia;
Nghị quyết 59-NQ/TW về hội nhập quốc tế trong tình hình mới; Nghị quyết số
66-NQ/TW về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu
cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới; Nghị quyết số 68-NQ/TW về
phát triển kinh tế tư nhân; Nghị quyết số 70-NQ/TW về bảo đảm an ninh năng
lượng quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045; Nghị quyết số 71-
NQ/TW về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo; Nghị quyết số 72-NQ/TW
về một số giải pháp đột phá, tăng cường bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức
khỏe Nhân dân. Cùng với đó, công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, cơ chế,
chính sách và thực thi được đổi mới về cả tư duy, cách làm; nhiều “điểm
nghẽn” được kịp thời tháo gỡ; cơ bản hoàn thành tháo gỡ các vướng mắc thể
chế; quyết liệt cải cách thủ tục hành chính (đã cắt giảm, đơn giản hóa gần 4,3
nghìn quy định kinh doanh, thủ tục hành chính và giấy tờ công dân); với tinh
thần kiến tạo phát triển, xóa bỏ tư duy “không quản được thì cấm”. Đây là
những định hướng lớn, đồng bộ, thể hiện tư duy đổi mới, tầm nhìn dài hạn và
quyết tâm chính trị rất cao của Đảng; là nền tảng đưa đất nước vươn mình phát
triển giàu mạnh và thịnh vượng trong kỷ nguyên mới.
Đặc biệt, năm 2025, Đảng đã lãnh đạo cả hệ thống chính trị đã triển khai
quyết liệt, hiệu quả việc sắp xếp, tinh gọn bộ máy và tổ chức chính quyền địa
phương 2 cấp gắn với đẩy mạnh phân cấp, phân quyền. Đây là cuộc cách mạng
mà không có nhiều quốc gia đã làm được; không chỉ diễn ra trong khối Chính
phủ mà bao trùm cả hệ thống chính trị, từ Đảng, Quốc hội, lực lượng vũ trang
đến Mặt trận Tổ quốc. Từ đó tạo ra không gian phát triển kinh tế rộng mở; cắt
giảm triệt để các khâu trung gian bất hợp lý; giảm mạnh biên chế gắn với nâng
cao chất lượng đội ngũ, tiết kiệm nguồn lực lớn cho ngân sách nhà nước; xây
dựng chính quyền gần dân, phục vụ Nhân dân tốt hơn; đẩy mạnh phân cấp,
phân quyền theo hướng “địa phương quyết, địa phương làm, địa phương chịu
trách nhiệm”.
Trước bối cảnh mới, với phương châm “Đoàn kết – Dân chủ – Kỷ cương –
Đột phá – Phát triển”, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng sẽ
chính thức diễn ra tại Thủ đô Hà Nội từ ngày 19/01 đến ngày 25/01/2026. Đây
là dấu mốc lịch sử trọng đại trên con đường phát triển của đất nước trong thời
đại Hồ Chí Minh, đánh dấu sự hội tụ truyền thống nghìn năm văn hiến của dân
tộc, mở ra kỷ nguyên mới – kỷ nguyên mà Việt Nam quyết tâm hiện thực hóa 2
mục tiêu 100 năm là 100 năm thành lập Đảng và 100 năm thành lập nước;
phấn đấu để đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao; vì một
nước Việt Nam hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh,
hạnh phúc, vững bước đi lên Chủ nghĩa xã hội.